Năng lượng và protein trong cơ thể

Năng lượng cung cấp không thể dưới mức cần thiết cho chuyển hóa cơ sở, tác dụng động lực đặc hiệu của thức ăn, hoạt động thể lực và các nhu cầu do đau ốm. Khi lượng thức ăn dưới mức nào đó không những gây ra thiếu năng lượng mà còn kèm theo thiếu nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu khác.

Một số nghiên cứu cho thấy những người ăn khỏe thường sống lâu hơn miễn là họ không bị béo phì và chế độ ăn thiên về nguồn gốc thực vật và cá. Do đó không nên khuyên ăn ít mà là ăn hợp lý đảm bảo cân bằng về năng lượng.

Khi thiếu năng lượng, cơ thể có khả năng tự điều chỉnh nhất định như điều chỉnh về chuyển hóa cơ sở, khả năng sinh nhiệt tùy ý và hiệu lực của hoạt động thể lực. Nếu sự thay đổi xuống thấp hơn mức thích ứng thì cơ thể sẽ tạo nên một trạng thái cân bằng mới thông qua thay đổi khối lượng cơ thể và giảm bớt tốc độ tăng trưởng.

Người ăn khỏe thường sống lâu hơn miễn là họ không bị béo phì và chế độ ăn thiên về nguồn gốc thực vật và cá
Người ăn khỏe thường sống lâu hơn miễn họ không bị béo phì và chế độ ăn thiên về nguồn gốc thực vật và cá

Đồng thời hoạt động thể lực cũng giảm, điều này có thể không nhận thấy qua lợi ích kinh tế mà chủ yếu ảnh hưởng đến lợi ích xã hội. Như vậy, thiếu năng lượng ở người lớn có thể chỉ gây ra các thay đổi hành vi trong gia đình và xã hội.

Ở trẻ em, sự rối loạn về phát triển thể chất và trí tuệ là các biểu hiện thường gặp của thiếu năng lượng, ở trẻ lớn hơn, giảm hoạt động thể lực thường biểu hiện rõ hơn giảm tăng trưởng khi thiếu năng lượng.

Do đó, sự phục hồi về tốc độ tăng trưởng, sự gia tăng các hoạt động thể lực là các biểu hiện sinh học quan trọng của sự cải thiện về cung cấp năng lượng.

>> Xem thêm: 

Khi thừa năng lượng, để thích ứng rất nhỏ (dưới 5%) nên năng lượng dự trữ của cơ thể dưới dạng tổ chức mở tăng lên rất nhanh. Các hậu quả chuyển hóa và bệnh lý của béo phì bao gồm tăng huyết áp, tăng lipid máu và đái tháo đường týp II, một số nghiên cứu còn thấy béo phì là yếu tố nguy cơ độc lập của vữa xơ động mạch và nhồi máu cơ tim.

Cần chú ý đậm độ năng lượng trong thức ăn trẻ em, đối với thức ăn lỏng cần đạt 0,6-0,75 Kcal/g còn đối với thức ăn đặc nên đạt 1,5 -2,0 Kcal/g. Đối với trẻ lớn hơn và người lớn, đậm độ năng lượng nên đạt 1,5 – 2,5 Kcal/g còn ở người béo nên có đậm độ năng lượng thức ăn thấp hơn (< 1 Kcal/g).

2. Protein

Protein trong thức ăn cung cấp các acid amin cần thiết cho sự tổng hợp các tế bào của mọi tổ chức của cơ thể. Ở người có 9 acid amin thiết yếu là: histidin, isoleuxin, leuxin, lysin, methionin, phenylalanin, treonin, tryptophan và valin. Hait acid amin khác – cystein và tyrosin trở nên thiết yếu khi các tiền chất của chúng – methionin và phenylalanin bị hạn chế.

Protein trong thức ăn cung cấp các acid amin cần thiết cho sự tổng hợp các tế bào của mọi tổ chức của cơ thể
Protein trong thức ăn cung cấp các acid amin cần thiết cho sự tổng hợp các tế bào của mọi tổ chức của cơ thể

Do các protein nguồn gốc thực vật thường nghèo một số acid amin cần thiết (lysin ở ngũ cốc, methionin ở đậu đỗ) nên trước đây người ta thường tính chỉ số hóa học (chemical score) hoặc thí nghiệm đánh giá chất lượng sinh học của protein (NPU và PER), tuy vậy đối với các khẩu phần hỗn hợp với một ít protein động vật (10 – 20%) thì yếu tố hạn chế nói trên không còn là vấn đề nữa.

Người ta nhận thấy protein, nhất là protein động vật có tầm quan trọng đối với sự tăng trưởng trẻ em một số các chất dinh dưỡng khác như kẽm cũng là yếu tố tăng trưởng) do đó lượng protein động vật nên đạt 10 – 25% tổng protein của khẩu phần.

Suy dinh dưỡng do thiếu protein thường gặp ở các nước đang phát triển đặc biệt ở thời kỳ cai sữa. Trẻ em suy dinh dưỡng do thiếu protein (kwashiorkor) thường phù, do thiếu năng lượng tổng số thường gầy đét (marasmus).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *