Dinh dưỡng ở bệnh gút

Gút là một bệnh chuyển hóa, có tăng acid uric trong máu, có biểu hiện ở khớp, sụn xương, dưới da, thận. Từ thế kỷ 17, 18 người ta đã mô tả dấu hiệu lâm sàng và dấu hiệu tăng acid uric trong máu bệnh nhân bị gút.

Năm 1892, trong tác phẩm “Thực hành Y khoa” Osler đã coi gút là một rối loạn dinh dưỡng có liên quan đến sản xuất thừa acid uric. Ngày nay người ta thấy quan niệm đó chỉ đúng một phần bởi vì trong phần lớn ca bệnh không phải do sản xuất quá nhiều acid uric mà do suy yếu sự thanh thải chất đó.

Acid uric là sản phẩm cuối cùng của giáng hóa các nucleo protein có chứa nhân purin. Khi lượng acid uric trong cơ thể tăng lên sẽ được biểu hiện bằng lượng acid uric máu vượt trên 70 mg /1 (415 pmol/1). Acid uric khó tan ở môi trường nước nên có thể kết tinh ở các khớp.

Gút là một bệnh đau khớp hay gặp ở nam giới
Gút là một bệnh đau khớp hay gặp ở nam giới

Gút là một bệnh đau khớp hay gặp ở nam giới thường là đau một khớp bàn ngón chân cái (60 – 70%), ngoài ra có thể gặp ở các khớp khác ở chân như các ngón chân, cổ chân, khớp gối, ít khi gặp ở các khớp chi trên. Chẩn đoán gút cấp tính dựa vào tính chất của viêm khớp: Vị trí ở chân, viêm đau dữ dội và hay tái phát, lượng acid uric trong máu tăng cao.

Gút mạn tính hay bệnh gút u cục, thường đi sau gút cấp tính nhưng cũng có thể bắt đầu ngay ở thể mạn tính với 3 nhóm triệu chứng chính: viêm nhiều khớp, nổi u cục (tô phi) và thương tổn thận. Ở Việt Nam theo thống kê ở bệnh viện Bạch Mai trong 10 năm (1985 – 1994) bệnh gút chiếm 2 – 4% tổng số các bệnh về khớp, 97% là nam giới trên 30 tuổi.

Nguy cơ bị gút có thể do tăng lượng acid uric do tăng quá trình tổng hợp nội sinh các nucleo -protein hoặc giảm tính hòa tan của acid uric ở các khớp. Thuộc nhóm đầu, đó là nam giới (chiếm 90%), uống rượu, thừa cân, thuộc nhóm sau đó là sử dụng các thuốc lợi niệu, salycylat và chức năng thận giảm cũng làm giảm mức thanh thải của acid uric. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị gút có lẽ do sử dụng các thuốc lợi niệu và giảm chức năng thận.

>> Xem thêm: 

Các nghiên cứu tìm hiểu khẩu phần ăn giữa nhóm bị gút và nhóm chứng thường đưa lại các kết quả thiếu sự thống nhất loại trừ tiêu thụ các thức uống có rượu. Các bệnh nhân bị gút thường sử dụng nhiều bia, đặc biệt thường có các cuộc chè chén say sưa.

  • Quản lý chế độ ăn

Chế độ ăn cần điều chỉnh giảm lượng acid uric để không tích lũy thành tinh thể ở các khớp và tổ chức mềm gây ra các triệu chứng lâm sàng và kiểm soát các rối loạn hay gặp ở bệnh nhân gút như đái tháo đường, béo phì, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, rối loạn mỡ máu.

Chế độ ăn cho người bị bệnh gút
Chế độ ăn cho người bị bệnh gút


Trước hết cần áp dụng thực đơn giảm bớt các thức ăn có nhiều purin.

Tuy thức ăn không phải là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh nhưng là tác nhân thuận lợi gây cơn viêm cấp. Do đó, chê độ ăn cần áp dụng cho những người có tăng acid uric máu đơn thuần mà không có biểu hiện lâm sàng của bệnh gút.

Trong cơ thể khoảng 15% các urat là do các nguồn thức ăn, phần còn lại là sản phẩm thoái hóa acid nucleic của các mô. Một chế độ ăn ngặt nghèo có thể giảm 200 – 400 mg acid uric trong nước tiểu và hạ thấp acid uric huyết thanh đến 59,5 pmol/dl (lmg/dl).

Chế độ ăn như vậy rất không ngon miệng nên khó thực hiện. Thông thường, người ta phối hợp với thuốc và hạn chế các thức ăn giàu purin như bia, phủ tạng, trứng cá, cá trích, cá mòi, thịt muối và các thực phẩm có lượng purin tương đối cao như cà phê, cacao, thịt, hải sản, đậu đỗ, nấm.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *